Nho là một loại quả thuộc về họ Vitaceae. Quả nho mọc thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng. Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vang, thạch nho, nước quả, dầu hạt nho...
Nho Mĩỹ và nho Úc vỏ mỏng, vị ngọt thơm và có hàm lượng đường cao tự nhiên.
Nhiều người cho rằng, chỉ có nho đỏ thì mới có lợi cho sức khỏe nhưng thực ra nho có các màu khác như đen, tím, xanh..cũng đều có tác dụng tương tự. Nghiên cứu cho thấy, trái nho chứa khoảng 65-85% nước, 10-33% đường, axit galic, axit silicic, glucosides, axit hoa quả, axit axalic, hợp chất tannin, muối kali, magie, canxi, mangan, coban, sắt và các vitamin B1, B2, B6, B12, A, C, P, PP, K.. và các enzyme.
Phần vỏ và hạt của quả nho có hợp chất tannin, vani, lecithin và dầu cần thiết. Lá nho có chứa đường, carotin, inossite, hợp chất tannin, betain, kali, natri, sắt và silicon.
Nho dung để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn trao đổi chất, rối loạn gan, thận và phổ cùng các bệnh liên quan đến tim mạch.
Nho giúp cái thiện quá trình trao đổi chất, lợi tiểu, chống viêm nhiễm và có tác dụng nhuận tràng. Nho rất tốt với những người bị mệt mỏi về hệ thần kinh, những bệnh nhân huyết áp cao, bệnh viêm phế quản và gout.
Ăn nho giúp cơ thể khỏe mạnh, giúp nhanh phục hồi đối với những người bị thiếu máu kinh niên, viêm dạ dày và táo bón. Nho cũng giúp ích rất nhiều đối với những người mắc bệnh lao phổi trong giai đoạn đầu. Uống nước ép nho tươi hàng ngày trong thời gian dài giúp giảm huyết áp cao rất hiệu quả.
Lưu ý khi bảo quản và sử dụng nho Mĩ, nho Úc: Nho khác với các loại trái cây khác: không tăng độ ngọt sau khi hái, vì vậy Nho chỉ được thu hoạch khi chín nên cần được bảo quản cận thận. Nhiệt độ để bảo quản nho lâu hơn khoảng 0- 4 độ C, luôn luôn để nho chưa rửa vào trong tủ lạnh để không làm đi lớp phấn phủ tự nhiên của quả Nho, chỉ nên rửa trước khi ăn hoặc chế biến.